Lý
do
Bảy năm trước
đây, Lào đã phía sau Việt Nam trong bảng xếp hạng của tăng
trưởngnăng suất lao động, năm 2012, Lào đã tăng lên ngang
hàng với Việt Nam và Lào đãvượt qua Việt Nam sau
đó.
Cho
ý kiến về tình hình này, kinh tế chuyên gia, cựu thủ tướng
của văn phòng luật sư, phạm Chi Lan nói:
So với Việt
Nam, đó là một điều tốt cho Lào, ngoài nông
nghiệp, Lào đã có những bước tiến lớn trong khai
thác các dịch vụ và ngành công nghiệp và phát triển các dự
án hạ tầng lớn. Tạo thêm thu nhập. Tăng thu
nhập cũng làm cho năng suất trung bình của Lào soar.
Lào năm gần đây, ngay
cả trong điều khoản của sự sáng tạo, họ đã có những
bước tiến tốt. "

Có rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến năng suất của một quốc gia, bao
gồm cả ba yếu tố chính. Đầu tiên là các yếu
tố liên quan đến việc phát triển và sử dụng các vật
liệu sản xuất như khoa học, kỹ thuật, công nghệ, năng
lượng, vật liệu và cơ sở hạ tầng, cong tac bao ho lao dong chất lượng.
Tiếp theo là các yếu
tố liên quan đến người lao động, bao gồm cả anh / cô mức độ giáo
dục, văn bằng chuyên môn, tình trạng sức khỏe, Thái độ làm
việc, kỷ luật lao động, trách nhiệm và tập tin đính
kèm để kinh doanh. ngành công nghiệp. Thứ ba là các yếu
tố liên kết với tổ chức lao động bao gồm các bộ phận của lao
động, tiền lương, tổ chức nơi làm việc và Thái độ của người lãnh
đạo.
Ngoài ra, các yếu tố của môi trường tự nhiên và điều
kiện làm việc còn rất nhiều ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng năng
suất.
Theo đánh
giá, năng suất lao động của Việt Nam trong năm 2000 đã
là chỉ một thứ tám của Malaysia, 1/4 của Thái
Lan và 1/3 của Indonesia, nhưng năm 2010 rút
ngắnđến 1/6 Malaysia, 1/3 của Thái Lan cán.
Những thành
tựu được đánh giá bởi phạmChi Lan là kết quả của sự
đổi mới thúc đẩy bởi sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông
nghiệp để ngành công nghiệp và dịch vụ. Hơn nữa, nguồn lao
động đang gia tăng và luồng vào vốn là phong
phú trong lĩnh vực kinh tế.
Tuy
nhiên, kể từ năm 2010, khoảng cách năng suất lao động của
Việt Nam với các nước khác đã không chỉ không được rút
ngắn nhưng có dấu hiệu thậm chí bị bỏ lại đằng
sau. Bà Chi Lan cho lý do:
Tuy
nhiên, từ năm 2013, Việt Nam đang bước vào một dân
số lão hóa, và giảm lực lượng lao động. Khả năng chuyển từ nông
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ cũng là San
lấp. Nông nghiệp là hiện nay chỉ có 20% GDP, nhưng lực
lượng lao động trong nông nghiệp vẫn là rất cao.
Một mặt, vốn đã được đổ vào rất nhiều nhưng sử
dụng của Việt Nam là không hiệu quả, vốn không hoạt
động có hiệu quả, do đó, năng suất không tăng lên nhiều. Một yếu
tố rất quan trọng khác là những yếu tố tổng
hợp TFP của Việt Nam trong vài năm qua là rất thấp, quan ao cong nhan gây trở
ngại rất lớn cho Việt Nam để tăng năng suất lao
động.
Phạm Chi Lan tiếp
tục phân tích khu vực tư nhân ở Việt Nam chính nó không
phải làhiệu quả như các nước khác. Các quốc gia khác họ luôn mong
đợi khu vực tư nhân có hiệu quả hơn so với các khu vực công. Hiện
nay, doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với nhiều trở
ngại, hầu hết trong số họ (97-98%) nhỏ và các
doanh nghiệp vừa,nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời
gian qua. Khu vực tư nhân ở Việt Nam là thu
hẹp lại.
Một
số công ty lớn tập trung vào các ngành có năng
suất lao động thấp như ngân hàng và tài chính. Do
đó, năng suất lao động ở Việt Nam là khó khăn để phù
hợp với các quốc gia khác.
Một trong những nguyên
nhân chính của Việt Nam suy giảm năng suất là khả
năngcủa mình để đổi mới, suy nghĩ và tận dụng chất xám. Sau
khi năm 2010, năng suất lao động của Việt Nam chủ yếu thúc
đẩy bởi tăng khai thác mỏ, công nghiệp hóa, lắp ráp và xuất
khẩu nguyên liệu.

Các yếu
tố sáng tạo của Việt Nam đã rất thấp và đã không đóng
góp nhiều cho sự phát triển, do đó làm cho năng
suất của Việt Nam không cao.
Muốn tăng năng
suất trong thời gian tới, để tối đa hóa khả năng sáng
tạo của các nền kinh tế. Việc tạo ra ở đây chúng
tôi đã gợi ý rằng không nhất thiết phải từ đầu rất Việt
Nam phải có phát minh, sáng chế tuyệt vời như các quốc
gia khác họ làm. Việc đầu tiên là để áp
dụng các công nghệ sáng chế của các quốc gia khác cũng có. Các công
nghệ này có thể được tích hợp thông qua đầu tư nước
ngoài, hoặc bởi các kênh khác nhau.
Điều quan
trọng nhất là nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt
Nam. Sáng tạo tốt, Hệ thống giáo dục phải được tốt. Hệ
thống giáo dục Việt Nam chính nó không khuyến khích các suy
nghĩ sáng tạo trong tư duy của học sinh khi họ đang ở
trong trường học và ảnh hưởng đến dụng cụ bảo hộ lao động của họ khi họ đi để làm
việc.
Phạm Chi Lan, tiến
sĩ chuyên gia, hơn nữa phân tích hệ thống giáo dục của
Việt Nam là vẫn còn trong cách đọc và sao chép, và sinh
viên tập trung hoàn toàn vào những gì giáo viên dạy.
Bài
thi cũng về những vấn đề đã học được trong lớp
học. Điều này khuyến khích các sinh viên để ghi
nhớ và tuân thủ, không có sự sáng tạo hoặc câu hỏi, thắc
mắc hoặc vấn đề.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét