Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Năng suất lao động Việt Nam đang trong đà tụt dốc

Lý do

Bảy năm trước đây, Lào đã phía sau Việt Nam trong bảng xếp hạng của tăng trưởngnăng suất lao động, năm 2012, Lào đã tăng lên ngang hàng với Việt Nam và Lào đãvượt qua Việt Nam sau đó.

Cho ý kiến về tình hình này, kinh tế chuyên gia, cựu thủ tướng của văn phòng luật sư, phạm Chi Lan nói:

So với Việt Nam, đó là một điều tốt cho Lào, ngoài nông nghiệp, Lào đã có những bước tiến lớn trong khai thác các dịch vụ và ngành công nghiệp và phát triển các dự án hạ tầng lớn. Tạo thêm thu nhập. Tăng thu nhập cũng làm cho năng suất trung bình của Lào soar.

Lào năm gần đây, ngay cả trong điều khoản của sự sáng tạo, họ đã có những bước tiến tốt. "


Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của một quốc gia, bao gồm cả ba yếu tố chính. Đầu tiên là các yếu tố liên quan đến việc phát triển và sử dụng các vật liệu sản xuất như khoa học, kỹ thuật, công nghệ, năng lượng, vật liệu và cơ sở hạ tầng, cong tac bao ho lao dong chất lượng

Tiếp theo là các yếu tố liên quan đến người lao động, bao gồm cả anh / cô mức độ giáo dục, văn bằng chuyên môn, tình trạng sức khỏe, Thái độ làm việc, kỷ luật lao động, trách nhiệm và tập tin đính kèm để kinh doanh. ngành công nghiệp. Thứ ba là các yếu tố liên kết với tổ chức lao động bao gồm các bộ phận của lao động, tiền lương, tổ chức nơi làm việc và Thái độ của người lãnh đạo. 

Ngoài ra, các yếu tố của môi trường tự nhiên và điều kiện làm việc còn rất nhiều ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng năng suất.

Theo đánh giá, năng suất lao động của Việt Nam trong năm 2000 đã là chỉ một thứ tám của Malaysia, 1/4 của Thái Lan và 1/3 của Indonesia, nhưng năm 2010 rút ngắnđến 1/6 Malaysia, 1/3 của Thái Lan cán.

 Những thành tựu được đánh giá bởi phạmChi Lan là kết quả của sự đổi mới thúc đẩy bởi sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp để ngành công nghiệp và dịch vụ. Hơn nữa, nguồn lao động đang gia tăng và luồng vào vốn là phong phú trong lĩnh vực kinh tế.

Tuy nhiên, kể từ năm 2010, khoảng cách năng suất lao động của Việt Nam với các nước khác đã không chỉ không được rút ngắn nhưng có dấu hiệu thậm chí bị bỏ lại đằng sau. Bà Chi Lan cho lý do:

Tuy nhiên, từ năm 2013, Việt Nam đang bước vào một dân số lão hóa, và giảm lực lượng lao động. Khả năng chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ cũng là San lấp. Nông nghiệp là hiện nay chỉ có 20% GDP, nhưng lực lượng lao động trong nông nghiệp vẫn là rất cao. 

Một mặt, vốn đã được đổ vào rất nhiều nhưng sử dụng của Việt Nam là không hiệu quả, vốn không hoạt động có hiệu quả, do đó, năng suất không tăng lên nhiều. Một yếu tố rất quan trọng khác là những yếu tố tổng hợp TFP của Việt Nam trong vài năm qua là rất thấp, quan ao cong nhan gây trở ngại rất lớn cho Việt Nam để tăng năng suất lao động.

Phạm Chi Lan tiếp tục phân tích khu vực tư nhân ở Việt Nam chính nó không phải làhiệu quả như các nước khác. Các quốc gia khác họ luôn mong đợi khu vực tư nhân có hiệu quả hơn so với các khu vực công. Hiện nay, doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với nhiều trở ngại, hầu hết trong số họ (97-98%) nhỏ và các doanh nghiệp vừa,nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời gian qua. Khu vực tư nhân ở Việt Nam là thu hẹp lại.

Một số công ty lớn tập trung vào các ngành có năng suất lao động thấp như ngân hàng và tài chính. Do đó, năng suất lao động ở Việt Nam là khó khăn để phù hợp với các quốc gia khác.

Một trong những nguyên nhân chính của Việt Nam suy giảm năng suất là khả năngcủa mình để đổi mới, suy nghĩ và tận dụng chất xám. Sau khi năm 2010, năng suất lao động của Việt Nam chủ yếu thúc đẩy bởi tăng khai thác mỏ, công nghiệp hóa, lắp ráp và xuất khẩu nguyên liệu.


Các yếu tố sáng tạo của Việt Nam đã rất thấp và đã không đóng góp nhiều cho sự phát triển, do đó làm cho năng suất của Việt Nam không cao.

Muốn tăng năng suất trong thời gian tới, để tối đa hóa khả năng sáng tạo của các nền kinh tế. Việc tạo ra ở đây chúng tôi đã gợi ý rằng không nhất thiết phải từ đầu rất Việt Nam phải có phát minh, sáng chế tuyệt vời như các quốc gia khác họ làm. Việc đầu tiên là để áp dụng các công nghệ sáng chế của các quốc gia khác cũng có. Các công nghệ này có thể được tích hợp thông qua đầu tư nước ngoài, hoặc bởi các kênh khác nhau.

Điều quan trọng nhất là nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam. Sáng tạo tốt, Hệ thống giáo dục phải được tốt. Hệ thống giáo dục Việt Nam chính nó không khuyến khích các suy nghĩ sáng tạo trong tư duy của học sinh khi họ đang ở trong trường học và ảnh hưởng đến dụng cụ bảo hộ lao động của họ khi họ đi để làm việc.

Phạm Chi Lan, tiến sĩ chuyên gia, hơn nữa phân tích hệ thống giáo dục của Việt Nam là vẫn còn trong cách đọc và sao chép, và sinh viên tập trung hoàn toàn vào những gì giáo viên dạy. 

Bài thi cũng về những vấn đề đã học được trong lớp học. Điều này khuyến khích các sinh viên để ghi nhớ và tuân thủ, không có sự sáng tạo hoặc câu hỏi, thắc mắc hoặc vấn đề.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét