Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

Nhân lực chất lượng cao cần phải được thúc đẩy trong công nghiệp mới

Nước ta có một lao động dồi dào lực lượng trong ngành công nghiệp. Tuy nhiên, năng suất của lực lượng này không phải là cao. Lý do chính là sự thiếu hụt về lực lượng lao động có trình độ cao, tay nghề cao.
Vì vậy, để khắc phục tình trạng nêu trên, ban hành cơ chế, chính sách từ nhà nước, các chương trình đào tạo nghề của các bộ, ngành; Sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, các Hiệp hội chính là "đòn bẩy" nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới.

Sự thiếu hụt lực lượng lao động ở mức cao


Hiện nay, ngành công nghiệp là sự đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, góp phần tích cực vào tạo việc làm. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp, đặc biệt là sản xuất vàcông nghiệp, chế biến vẫn thấp, giảm khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

 Tại hội nghị khoa học quốc tế "Của Việt Nam công nghiệp chính sách quốc gia cho đến năm 2025, tầm nhìn 2035" cho thấy rằng tỷ lệ tăng trưởng sản xuất công nghiệp của ngành công nghiệp vào năm 2006-2015 chỉ khoảng 2,4% mỗi năm. , Mà là chậm hơn so với mức trung bình tăng trưởng của nền kinh tế (khoảng 3,9%). 

Một phần lý do là chất lượng của công nghiệp lao động thấp và giá trị gia tăng của công nhân là không cao. Trong cơ cấu lao động công nghiệp trong năm 2015, có rất nhiều hơn 2,1 triệu người có trình độ từ cấp độ tiểu học trở lên, chiếm chỉ 18.1% tổng số lao động công nghiệp. Nó là đáng lo ngại rằng một số các công nhân công nghiệp mà không có chuyên môn kỹ thuật có xu hướng tăng.

Theo tiến sĩ Duong Dinh giám, Hiệp hội khoa học kinh tế Việt Nam, sáng tạo người nghèo của nguồn nhân lực là một trong những lý do chính dẫn đến sự chậm trễ di chuyển từ mức độ xử lý, hội đồng để xử lý độ cao. , Chìa khóa-ngành sản xuất công nghiệp hoá và hiện đại hóa. Từ kinh nghiệm của các quốc gia trước, sự thành côngcủa Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc trong di chuyển từ các ngành công nghiệp gia công và lắp ráp để chế biến và sản xuất công nghiệp nhờ sự sáng tạocủa nguồn nhân lực. 

Theo các tổng thống kê văn phòng (GSO), trong năm 2015, tỷ lệ người lao động được đào tạo trong sản xuất và chế biến là rất thấp (17,7%), giảm từ 17,9% trong năm 2014. Trong năm 2014, Việt Nam có gần 5.4 triệu cao đủ điều kiện lao động, trong đó sản xuất và các ngành công nghiệp chế biến chiếm chỉ 9% (40-60% cho các nước đang phát triển). Kỷ luật lao động, ý nghĩa và các phong cách công nghiệp của người lao động cũng rất thấp.

 Đa số công nhân đến từ các vùng nông thôn, có một phong cách sản xuất nông nghiệp, không nghiêm chỉnh tuân theo các quy định về thời gian và hành vi. Nhiều công nhân không được trang bị kiến thức, kỹ năng làm việc theo nhóm, sợ để thúc đẩy ý tưởng của họ và chia sẻ kinh nghiệm làm việc của họ. Với một tình huống như vậy của lao động, đây là một thách thứclớn cho ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Gắn đào tạo với nhu cầu kinh doanh


Nghiên cứu thực hiện bởi Viện khoa học lao động và xã hội giao (ILSSA) vào năm 2016 cho thấy rằng hơn 91% số doanh nghiệp gặp khó khăn trong sử dụng công nhân kỹ thuật lành nghề. Trong số đó, 47.62% người trả lời nói rằng có không đủ công nhân kỹ thuật trong khu vực, 38.1% người trả lời nói rằng họ đã được về mặt kỹ thuật có tay nghề nhưng không đạt những kỹ năng theo yêu cầu của các doanh nghiệp. Nghiệp chướng, kỹ năng công việc khác, còn lại liên quan đến tiền lương.

 Giám đốc của Viện khoa học lao động và xã hội giao Dao Quang Vinh cho rằng cấu trúc của các đào tạo nghề cho phát triển công nghiệp là không phù hợp. Việt Nam đang tập trung vào khoa học công nghệ cao thấp và các khoa học sở hữu trí tuệ trong khi sự phát triển của khoa học và công nghệ đang gia tăng. Hơn nữa, việc thiếu các mối liên kết với nhu cầu thị trường lao động trong đào tạo cũng dẫn đến sự thừavà thiếu nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp.

 Cơ sở giáo dục đào tạo, cửa hàng bảo hộ đã không được thiết lập một bộ phận phụ trách quan hệ với các doanh nghiệp để tạo ra một vai trò tích cực trong mối quan hệ cung-cầu lao động qua đào tạo. Các doanh nghiệp chưa cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực qua đào tạo cho cơ quan quản lýnhà nước. Vì vậy, nó là khó khăn để xác định rõ ràng các lĩnh vực và các ngành công nghiệp hiện đang ở trong tình trạng thiếu nhân viên và thiếu công nhân lành nghề.

Theo nghiên cứu ILSSA, chỉ có 20% số người được hỏi có thường xuyên hợp tác với các tổ chức đào tạo, nhưng các chế độ chính của hợp tác là hỗ trợ và tiếp nhận củahọc viên, các hình thức khác như chương trình đào tạo hoặc gửi người lao động chocơ sở giáo dục đào tạo là hạn chế. Ông Dao Quang Vinh cũng cho biết rằng nó là cần thiết để điều chỉnh là trách nhiệm của doanh nghiệp cho phát triển nguồn nhân lực bằng cách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, Hiệp hội nghề nghiệp và cơ sở sản xuất để tham gia. Phát triển các trường dạy nghề đào tạo, tăng đầu tư vào nguồn nhân lực nói chung và đào tạo, gép và dạy nghề đào tạođặc biệt. Để tạo liên kết giữa đào tạo kỹ thuật và nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh.

 Có cơ chế thích hợp để khuyến khích việc tuyển dụng các trường học đểđào tạo mũi nhọn ngành, đặc biệt là tập trung vào một số ngành công nghiệp ưu tiên, chẳng hạn như: cơ khí và luyện kim; hóa học; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chế biến; Dệt may, giày dép bảo hộ; Thiết bị điện tử và viễn thông; Năng lượng mới và năng lượng tái tạo đến năm 2025 cũng cần phải được quan tâm nhiều hơn. Cùng với đó là mở rộng các hình thức ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo, học sinh, sinh viên, người lao động để nghiên cứu và cải thiện trình độ của họ.



Cựu giám đốc của Mac Van Tien viện Khoa học và công nghệ cũng cho biết rằng các chính sách khuyến khích và thu hút người lao động có trình độ cao trong ngành công nghiệp ưu tiên, đặc biệt là ở nước ngoài trí thức Việt Nam, nên được khuyến khích. Về làm việc tại Việt Nam, hợp tác với các đồng nghiệp Việt Nam trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy. Để thu hút và sử dụng hiệu quả các dự án đầu tư nước ngoài để đào tạo các chuyên ngành tài nguyên con người chất lượng cao, mà Việt Namđã không được nêu ra đào tạo. 

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn lực vào các kỹ năng trong việc sử dụng máy móc nông nghiệp, trang trại sản xuất máy móc chế biến, thực hành nông nghiệp an toàn và sạch nông sản cũng cần được nhấn mạnhđể cung cấp một cơ sở cho chuyển giao. Thay đổi cơ cấu nông nghiệp, thay thế mũ bảo hộ mới góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, thông thường công nghệ thông tin, sản xuất công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, đang thay đổi về cơ bản chiến lược tư duy và phát triển. ngành công nghiệp. Vì vậy, xã hội cũng cần phải thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo nghề, nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội, do đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp trong nước.

Thủ tướng cũng đã quyết định thành lập Hội đồng quốc gia giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn 2016-2021 để hướng dẫn và đánh giá các nguyên nhân của sự đổi mới trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhânlực. ; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam cho năm 2016-2021. Hy vọng với quyết tâm và các chính sách nhất quán của Đảng và nhà nước; Sự tích hợp của toàn xã hội trong sự phát triển chung của nguồn nhân lực, lao động có tay nghề và giáo dục đại học ở nước ta trong thời gian tới sẽ đáp ứng các yêu cầu của công nghiệp hoá và hiện đại hóa. Phát triển kinh tế, xây dựng quốc gia.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét