Nền kinh tế trên toàn thế giới đã đi qua một giai
đoạn của cạnh tranh dựa trên tính sẵn sàng của các yếu
tố của sản xuất. Khi bước vào giai đoạn cạnh
tranh chủ yếu dựa trên các yếu tố để nâng
cao hiệu quả, chất lượng và năng suất (năng suất lao
động) đóng một vai trò rất quan trọng.
Tại hội thảo tại có
tên "quốc gia cải cách và bền vững phát triển tại đông
nam á", cải thiện chất lượng lao động để cải
thiện năng lực cạnh tranh quốc gia đã được phân tích của các
chuyên gia. Giá, từ đó có những đề xuất chính
sách cho phát triển kinh tế của Việt Nam.
Dân số vàng nhưng chất
lượng nguồn nhân lực là thấp

Đánh
giá nguồn nhân lực ở Việt Nam và các vấn
đề về nâng cao năng suất lao động, PGS. TS. Nguyễn Lan hương, Viện khoa
học lao động và xã hội (bộ lao động, thương
binh và xã hội), nói rằng Việt Nam đang ở giai
đoạn cơ cấu dân số vàng vớiphong phú nguồn nhân lực, trẻ và cũ. Cơ
hội để tạo ra sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng năng
suất lao động. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực thấp, có một khoảng
cách lớn so với nhu cầu của nền kinh tế và so
sánh với các nước khác trong ASEAN và các nước khác. Lực
lượng lao động có một thiếu hụt trầm trọng của lao
động có tay nghề cao và công nhân lành nghề, làm
cho Việt Nam nguồn nhân lực chỉ số năng lực cạnh
tranh, theo Ngân hàng thế giới đánh giá trong năm
2014, chỉ có 3, 39trong số 10 và khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế của Việt Nam xếp thứ 73/133 quốc
gia được xếp hạng.
Đánh
giá này không phải là căn cứ khi nhìn vào các tiêu
chí quan trọng để đánh giá nguồn nhân lực như cao kỹ
năng, nhanh chóng mua lại, sáng tạo và quyền sở hữu công
nghệ, khả năng làm tinh thần đồng đội, trách nhiệm, khả
năng nắm bắt và giao tiếp với khách hàng, sự linh
hoạt trong việc di động, và các yếu tố mới như thể
dục thể chất, tình trạng việc làm; Mức độ của con
người tự do và cơ hội để tăng liên tục,năng suất lao
động của Việt Nam là vẫn đánh giá thấp so với các nước khác trong khu
vực.
Trong năm
2015, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn năng
suất lao động Singapore bởi 17 lần, 11 lần thấp
hơn so với năng suất lao động của Nhật bản, 10 lần thấp hơn
so với năng suất lao động của Hàn Quốc, tương đương với năng
suất lao động 1/5 Malaysia và 2/5 năng suất lao
động của Thái Lan. Trong khi đó, nền kinh tế phát triển ít có một lao
động năng suất tăng tỷ lệ cao hơn so với Việt
Nam, chẳng hạn như năng suất lao động Lào từ 0,93 lần đó của Việt
Nam trong năm 2008, nhưng bắt kịp với Việt
Nam trong năm 2015. ; Năm 2008, năng suất lao
động của Myamar là 0,51 lần năng suất lao động của Việt
Nam, tăng 0.55 lần trong năm 2015.
"Thu
hẹp khoảng cách tương đối giữa năng suất lao động của
Việt Nam so với cácnước ASEAN tiên tiến hơn là một thành
tựu đáng kể, nhưng năng suất lao động của các quốc
gia kém phát triển là bắt kịp với năng suất lao
động của Việt Nam, Hiển thị công suất. Đối thủ cạnh
tranh của Việt Nam là yếu và nguy cơ tụt hậu đằng
sau các nền kinh tế là khá rõ ràng. "-PGS. TS. Nguyễn Lan hương bày
tỏ quan điểm của mình.
Cải
thiện chất lượng lao động như thế?
Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020 nhằm mục
đích tăng trưởngkinh tế trung bình từ 6,5% - 7% / năm; Việc
làm tăng 0,7 triệu việc làm / năm, tương
đương 1,3% / năm. Do đó, năng suất lao động dự
kiến sẽ tăng ở mức trung bình của 6% mỗi năm.
Theo TS. Nguyễn thị thu Anh, phó giám
đốc của viện Trung ương cho kinh tế quản lý (CIEM), nói rằng khi các quốc
gia nhập cạnh tranh stage chủ yếu là trên cơ sở nâng
cao hiệu quả các yếu tố, chất lượng trang bị bảo hộ lao động đóng một vai
trò. Trụ cột quan trọng, là chính lái xe cho lực
lượng. Bước vào giai đoạn này của sự phát triển các quốc
gia phải bắt đầu để phát triển quy trình sản xuất nhiều
hơn và tăng chất lượng sản phẩm như tiền lương có tăng nhưng có
thể không tăng. Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm
2016-2017 cho thấy rằng các vấn đề của lực lượng lao
động không đủ tiêu chuẩn là trở ngại lớn nhất.
Dựa trên những phân
tích, thứ ba Anh khuyến cáo đào tạo, dạy nghề đào
tạo bậc đại học và đào tạo sau đại học, nên được đổi
mới phù hợp với thông lệ quốc tế và thực hành tốt. Nó là cần
thiết để tăng cường hợp tác với các nước khác, đặc
biệt là các nước Châu á (ví dụ như Hàn Quốc, Nhật
bản) vào đào tạo nghề, đào tạo đại học, giáo viên giáo
dục, chuyển giao các chương trình đào tạo, sửa đổi chương
trình giảng dạy, tăng số lượng kiến thức thực tế, ngoại ngữ, gia
tăng kiến thức về lao động vàkỷ luật.
Ngoài
ra, ưu tiên nên được để ưu tiên các trạng
thái nguồn lực cho đào tạo và nâng cao chất lượng đào
tạo trong các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam có tiềm
năng cho công nghệ khuếch tán và năng suất (chẳng
hạn như thông tin công nghệ kỹ thuật số, kỹ thuật số, vv) với mục
tiêu cụ thể và số lượng mục tiêu liên kết với khu
vực kinh tế phát triển được ưu tiên cho hiệu suất và giám
sát. Nâng cao hiệu quả sử dụngngười lao động đủ điều kiện thông
qua các chính sách đãi được thực hiện công bằng và minh
bạch, thu hút nước ngoài Việt Nam, cao cấp ở nước
ngoài người lao động về đào tạo, chuyển giao các kiến
thức và kỹ thuật học viện, trường học, các lao động trong nước.
Với cách
tiếp cận của ông, PGS. TS. Nguyễn Lan hương nói rằng nó là cần
thiết để tăng tốc và tiếp tục thực hiện chương
trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc gia,đặc biệt
là chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; Tạo
ra một môi trườngkinh doanh tương đương để khu vực tư nhân sẽ
trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế; Cùng lúc đó, chú
ý phải được thanh toán cho việc thúc đẩy các chương
trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá
trị gia tăng và phát triểnbền vững để nhanh chóng chuyển
đổi cơ cấu lao động từ khu vực kinh tế, tạo ra giá
trị gia tăng thấp để ngành công nghiệp, bước tạo
ra giá trị cao hơn.
Trên góc
độ vĩ mô, hương đã đề xuất việc phát triển nguồn nhân lực chiến
lược trong hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu
tiên (từ nay đến năm 2020), dựa trên chiến
lược phát triển lĩnh vực lao động, xuất khẩu theo định hướng, các lợi
thế so sánh và tiềm năng của lực lượng lao động sẽ được loại
bỏ. Phụ thuộc vào lao động rẻ, thấp kỹ năng và khai
thác nguyên liệu.
Ở giai
đoạn sau (2021-2030), thị trường lao động tập trung vào sự cần
thiết cho nguồn nhân lực cho sự phát triển của ngành
công nghiệp và dịch vụ yêu cầu công nghệ cao và kỹ
năng để đạt được mức trung bình của năng suất lao
động trong khu vực. .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét