Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Năng suất lao động tại Việt Nam đang trong tình trạng báo động

Nền kinh tế trên toàn thế giới đã đi qua một giai đoạn của cạnh tranh dựa trên tính sẵn sàng của các yếu tố của sản xuất. Khi bước vào giai đoạn cạnh tranh chủ yếu dựa trên các yếu tố để nâng cao hiệu quả, chất lượng và năng suất (năng suất lao động) đóng một vai trò rất quan trọng.
Tại hội thảo tại có tên "quốc gia cải cách và bền vững phát triển tại đông nam á", cải thiện chất lượng lao động để cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia đã được phân tích của các chuyên gia. Giá, từ đó có những đề xuất chính sách cho phát triển kinh tế của Việt Nam.

Dân số vàng nhưng chất lượng nguồn nhân lực là thấp


Đánh giá nguồn nhân lực ở Việt Nam và các vấn đề về nâng cao năng suất lao động, PGS. TS. Nguyễn Lan hương, Viện khoa học lao động và xã hội (bộ lao động, thương binh và xã hội), nói rằng Việt Nam đang ở giai đoạn cơ cấu dân số vàng vớiphong phú nguồn nhân lực, trẻ và cũ. Cơ hội để tạo ra sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực thấp, có một khoảng cách lớn so với nhu cầu của nền kinh tế và so sánh với các nước khác trong ASEAN và các nước khác. Lực lượng lao động có một thiếu hụt trầm trọng của lao động có tay nghề cao và công nhân lành nghề, làm cho Việt Nam nguồn nhân lực chỉ số năng lực cạnh tranh, theo Ngân hàng thế giới đánh giá trong năm 2014, chỉ có 3, 39trong số 10 và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế của Việt Nam xếp thứ 73/133 quốc gia được xếp hạng.

Đánh giá này không phải là căn cứ khi nhìn vào các tiêu chí quan trọng để đánh giá nguồn nhân lực như cao kỹ năng, nhanh chóng mua lại, sáng tạo và quyền sở hữu công nghệ, khả năng làm tinh thần đồng đội, trách nhiệm, khả năng nắm bắt và giao tiếp với khách hàng, sự linh hoạt trong việc di động, và các yếu tố mới như thể dục thể chất, tình trạng việc làm; Mức độ của con người tự do và cơ hội để tăng liên tục,năng suất lao động của Việt Nam là vẫn đánh giá thấp so với các nước khác trong khu vực.

Trong năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn năng suất lao động Singapore bởi 17 lần, 11 lần thấp hơn so với năng suất lao động của Nhật bản, 10 lần thấp hơn so với năng suất lao động của Hàn Quốc, tương đương với năng suất lao động 1/5 Malaysia và 2/5 năng suất lao động của Thái Lan. Trong khi đó, nền kinh tế phát triển ít có một lao động năng suất tăng tỷ lệ cao hơn so với Việt Nam, chẳng hạn như năng suất lao động Lào từ 0,93 lần đó của Việt Nam trong năm 2008, nhưng bắt kịp với Việt Nam trong năm 2015. ; Năm 2008, năng suất lao động của Myamar là 0,51 lần năng suất lao động của Việt Nam, tăng 0.55 lần trong năm 2015.

"Thu hẹp khoảng cách tương đối giữa năng suất lao động của Việt Nam so với cácnước ASEAN tiên tiến hơn là một thành tựu đáng kể, nhưng năng suất lao động của các quốc gia kém phát triển là bắt kịp với năng suất lao động của Việt Nam, Hiển thị công suất. Đối thủ cạnh tranh của Việt Nam là yếu và nguy cơ tụt hậu đằng sau các nền kinh tế là khá rõ ràng. "-PGS. TS. Nguyễn Lan hương bày tỏ quan điểm của mình.
Cải thiện chất lượng lao động như thế?

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020 nhằm mục đích tăng trưởngkinh tế trung bình từ 6,5% - 7% / năm; Việc làm tăng 0,7 triệu việc làm / năm, tương đương 1,3% / năm. Do đó, năng suất lao động dự kiến sẽ tăng ở mức trung bình của 6% mỗi năm.

Theo TS. Nguyễn thị thu Anh, phó giám đốc của viện Trung ương cho kinh tế quản lý (CIEM), nói rằng khi các quốc gia nhập cạnh tranh stage chủ yếu là trên cơ sở nâng cao hiệu quả các yếu tố, chất lượng trang bị bảo hộ lao động đóng một vai trò. Trụ cột quan trọng, là chính lái xe cho lực lượng. Bước vào giai đoạn này của sự phát triển các quốc gia phải bắt đầu để phát triển quy trình sản xuất nhiều hơn và tăng chất lượng sản phẩm như tiền lương có tăng nhưng có thể không tăng. Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2016-2017 cho thấy rằng các vấn đề của lực lượng lao động không đủ tiêu chuẩn là trở ngại lớn nhất.

Dựa trên những phân tích, thứ ba Anh khuyến cáo đào tạo, dạy nghề đào tạo bậc đại học và đào tạo sau đại học, nên được đổi mới phù hợp với thông lệ quốc tế và thực hành tốt. Nó là cần thiết để tăng cường hợp tác với các nước khác, đặc biệt là các nước Châu á (ví dụ như Hàn Quốc, Nhật bản) vào đào tạo nghề, đào tạo đại học, giáo viên giáo dục, chuyển giao các chương trình đào tạo, sửa đổi chương trình giảng dạy, tăng số lượng kiến thức thực tế, ngoại ngữ, gia tăng kiến thức về lao động vàkỷ luật.

Ngoài ra, ưu tiên nên được để ưu tiên các trạng thái nguồn lực cho đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo trong các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam có tiềm năng cho công nghệ khuếch tán và năng suất (chẳng hạn như thông tin công nghệ kỹ thuật số, kỹ thuật số, vv) với mục tiêu cụ thể và số lượng mục tiêu liên kết với khu vực kinh tế phát triển được ưu tiên cho hiệu suất và giám sát. Nâng cao hiệu quả sử dụngngười lao động đủ điều kiện thông qua các chính sách đãi được thực hiện công bằng và minh bạch, thu hút nước ngoài Việt Nam, cao cấp ở nước ngoài người lao động về đào tạo, chuyển giao các kiến thức và kỹ thuật học viện, trường học, các lao động trong nước.

Với cách tiếp cận của ông, PGS. TS. Nguyễn Lan hương nói rằng nó là cần thiết để tăng tốc và tiếp tục thực hiện chương trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc gia,đặc biệt là chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; Tạo ra một môi trườngkinh doanh tương đương để khu vực tư nhân sẽ trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế; Cùng lúc đó, chú ý phải được thanh toán cho việc thúc đẩy các chương trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triểnbền vững để nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu lao động từ khu vực kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thấp để ngành công nghiệp, bước tạo ra giá trị cao hơn.

Trên góc độ vĩ mô, hương đã đề xuất việc phát triển nguồn nhân lực chiến lược trong hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên (từ nay đến năm 2020), dựa trên chiến lược phát triển lĩnh vực lao động, xuất khẩu theo định hướng, các lợi thế so sánh và tiềm năng của lực lượng lao động sẽ được loại bỏ. Phụ thuộc vào lao động rẻ, thấp kỹ năng và khai thác nguyên liệu.

Ở giai đoạn sau (2021-2030), thị trường lao động tập trung vào sự cần thiết cho nguồn nhân lực cho sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ yêu cầu công nghệ cao và kỹ năng để đạt được mức trung bình của năng suất lao động trong khu vực. .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét